Tôi không nhớ mình đã bắt đầu đi chùa vào khi nào, hình như lúc đó khoảng 10 tuổi thì phải. Ở gần nhà tôi có một ngôi tịnh xá theo trường phái Nam tông, cha là người đầu tiên đưa tôi đến đó vào những dịp rằm. Ông là người tín ngưỡng rất sâu đạo Phật, dù cuộc sống khó khăn nhưng chưa bao giờ thấy cha tôi trể nãi trong việc tu tập, những buổi sám hối, rồi công quả, tụng kinh trong những đám tang ở quê cha luôn là người sốt sắng. Tôi theo cha trong những lần như thế, nhưng ở cái tuổi lên 10, tôi chưa biết gì về đạo Phật. Điều tôi thích thú nhất chỉ là những ngày rằm, sau thời kinh sám hối là đến lúc sư ông phát trái cây và kẹo ngọt, những thứ đó với thời của tôi, trẻ con ít khi có để ăn. Và điều khiến tôi sợ nhất là mỗi ngày rằm như vậy, phải sám hối lạy đủ 108 lạy, những lúc đó hai đầu gối tôi đau ghê gớm, lúc nào cũng mong cho nhanh xong để được sư ông phát quà
Thời gian trôi đi, tôi đã biết tự đi chùa mà không cần cha dẫn dắt. Quê tôi ở thuộc một vùng ngoại ô của thành phố Cần Thơ, chùa chiền khá nhiều, tôi và những đứa bạn đã bắt đầu đi xe đạp đến những ngôi chùa lân cận, dần dần chúng tôi còn đi xa hơn, thuở đó trong xóm tôi, có một sư cô ở vùng Rạch Giá về xây cái thất nhỏ để tu, tuy nhỏ nhưng có đủ kinh kệ, chuông mõ,…tôi và mấy thằng bạn đến tụng kinh ở đó vào mỗi đêm, tuy rất siêng năng tụng niệm nhưng chúng tôi còn quá trẻ, nhiều lần còn cự cãi tranh luận đúng sai về một câu kinh hay một điều giới luật nào đó trong đạo, những lần như thế thường sẽ phân ra làm hai “phe”, tranh luận sôi nổi, có những hôm chúng tôi thắng, nhưng cũng có những lần chúng tôi đuối lý, khi đó tôi rất tức tối và tìm cách đáp trả vào những lần gặp gỡ sau; bây giờ suy nghĩa thật nực cười cho cái kiêu ngạo và hơn thua của mình, nhưng những lần như thế tôi dần hiểu thêm về những giáo lý trong đạo, chúng tôi đã gắn kết và xây dựng được một tình huynh đệ khá thân thiết, quý hơn cả anh em trong gia đình; tôi may mắn sở hữu một giọng đọc kinh khá hay, nên thời kinh nào tôi làm chủ lễ cũng được nhiều người khen ngợi, nhất là mấy cô bác lớn tuổi đến chùa, những lần được nghe như vậy tôi vui sướng lắm, từ đó mà mỗi lần tụng kinh tôi cố tăng âm lượng cuống họng lên hết cỡ, cố gắng nén hơi rồi ngân nga bay bỗng để cái giọng mình phải vút cao và nổi bật hơn so với đại chúng, có biết đâu rằng những lần như thế mọi người rất khó tụng theo vì cái giọng lệch tông của tôi; những kỷ niệm đẹp nhất và có thể khắc sâu nhất chính là những lúc chúng tôi ngồi nói chuyện sau thời kinh buổi tối, quê tôi ngày ấy ánh điện chưa cung cấp đầy đủ, dù điện quốc gia đã kéo về nông thôn nhưng không thể cung ứng hết cho cả xóm, do đó những ánh đèn điện chủ yếu phục vụ cho thời kinh, còn sau đó là ánh đèn dầu thay thế, thế nhưng chúng tôi thích khung cảnh đó, nó huyền dịu và khá ấm cúng. Ngôi tịnh thất tuy còn nghèo nhưng cũng hay có nồi chè, hoặc khi nồi cháo để thiết đãi bọn nhóc chúng tôi. Ngược lại, khi ngôi tịnh thất có việc thì chúng tôi là lực lượng nồng cốt để tiếp, những công việc có khi nó dành cho người lớn như bổ củi, gánh nước,…tôi sợ nhất những công việc đó, nhưng không thể tránh khỏi. Hoặc những lần ngôi tịnh thất có đám, chúng tôi phải đi mượn bàn ghế cách đó cả mấy cây số rồi vác về. Nhưng hầu như ai cũng hăng hái, vì xem đó là bổn phận và niềm vui, có một chút ít nghĩ rằng gắng làm để kiếm phước.
Sư cô của chúng tôi ít khi thuyết pháp, hình như sư cô chọn một pháp môn tu mà lúc nào cũng im lặng, tôi cũng không biết rõ đó là pháp môn gì. Chính vì im lặng nên chúng tôi lại có dịp lớn tiếng trao đổi với nhau, và sư cô cứ cười mà ít khi can thiệp vào câu chuyện của chúng tôi.
Sau khoảng 7-8 năm gì đó, thì địa phương quy hoạch xây dựng trụ sở huyện mới, ngôi tịnh thất bị thu hồi đất và buộc phải di dời sang nơi khác, sau đó không hiểu lý do gì mà sư cô đã về lại xứ Rạch giá để tu tập, không xây dựng lại tịnh thất. Kể từ đó chúng tôi cũng không còn liên lạc được với nhau, thời đó không có điện thoại như bây giờ, hiếm lắm mới có một gia đình có điện thoại bàn.
Chúng tôi ít khi có dịp gặp nhau vì mỗi người phải lo đi học, người phải bắt đầu tiếp gia đình bươn trải cuộc sống.
Cuộc sống cứ thế trôi đi, thấm thoát mà đã hơn 15 năm qua, tôi cũng không còn có dịp quay về lại nơi xưa, mọi thứ giờ đã thay đổi, xóm tôi ngày đó bây giờ đã là một thị trấn sầm uất, những cánh đồng ven đường giờ thành những khu dân cư sinh sống, những ngôi nhà kiên cố thay cho những mái lá nghèo, ánh đèn đường sáng rực suốt đêm. Bà con hàng xóm tôi ngày xưa, người đã không còn, người thì đi về nơi khác, vì kể từ ngày lên thị trấn, đất bị thu hồi cho các dự án, họ buộc phải di dời, con kênh trước nhà tôi giờ đã là một cái chợ, những hình ảnh xa xưa giờ chỉ còn trong ký ức, huynh đệ chúng tôi cũng chỉ còn trong nổi nhớ, nhớ lắm quê tôi!
Hoàng Phương
Cần Thơ, tháng 11 năm Nhâm thìn